PHAY BÁNH RĂNG CÔN RĂNG THẲNG P3 : Phương pháp phay bánh răng côn răng thẳng

Phương pháp phay bánh răng côn răng thẳng

4 Chọn dao phay

Chọn dao có nhiều chiều dày bằng rãnh đầu nhỏ, nhưng dạng ràng (tức là môđun và sô hiệu răng) phải theo đầu lớn của răng. Như vậy, không thể dùng loại dao phay môđun thông thường như khi phay bánh trụ răng thẳng để phay hoàn chỉnh. Khi chọn dao, cùng cán cứ môđun, góc ăn khớp, số răng cần phay và mỗi môđun cũng có ba bộ dao (8 con, 15 con và 26 con) như khi phay bánh ràng trụ. Những điều khác biệt là số hiệu của dao không căn cứ số răng thực mà phải theo số răng giả của bánh răng:

 

 

Ví dụ: Bánh răng có 42 răng:  φ= 65o40’

(khác hoàn toàn với z mà ta cần gia công là 42 răng). Vì vậy khi cần phay bánh răng côn răng thẳng ta phải chọn
z giả theo bảng. Cho phép ta chọn số hiệu dao phay tổng đó số thuận dùng khi phay bánh răng có z nhỏ và số nghịch lớn dùng khi z lớn.

Sô rảng già z’ Sô hiệu dao phay môđun
Số thuận Số nghịch
Độ 26 dao Bộ 15 dao Bộ 8 dao
12 1 1 1 8
13 1.5 1.5
14 2 2 2 7
15 2.25 2.5
16 2.5
17 3 3 6
18 3.25 3
19 3.5 3.5
2G 3 75
21 4 4 4 5
22 4.25
23 4.5 4.5
24-25 4.75
26-27 5 5 5 4
28-29 5.25
30-31 5.5 5.5
32-34 5.75
35-37 6 6 6 3
38-41 6.25
42-46 6.5 6.5
47-54 6.75
55-65 7 7 7 2
66-79 7.25
80-102 7.5 7.5
103-134 7.75
>134 và thanh răng 8 8 8 1

4.2 Lắp dao phay

Đối với dao phay môđun dùng để phay bánh côn răng thẳng, ta lấy tâm dao bằng cách lấy một loại bột màu xoa lên mật của lưỡi dao dùng mũi vạch lấy dâu một đường bổ dọc chia bê dày dao ra làm hai phần đều nhau. Lắp dao lên trục gá dao, lót thêm các vòng đệm sao cho dao càng gần thân máy càng cứng vững miền là không bị vướng hoặc ảnh hưởng đến công việc khi phay (xem bài 2).

4.3 Chọn chế độ cắt

Tính và chọn dao theo cách thức như khi xác định chế độ cắt để phay bánh trụ với dao phay dạng đĩa bằng thép gió có thể lây theo bảng sau.

Yếu tố
cắt gọt
Công việc
phay và
môđun
Vật liệu gia công
Thép

45

Thép
40X
Thép
20X
Gang xám HB
= 150 -180 và
đồng thanh
Đồng thanh
và đồng
thau
V Công
việc
Phá
lãng
32

40

30

37,5

22

27

25

31

40

50

1 268 183 107 400 565
1.5 200 150 88 328 463
2 199 130 76 284 401
2.5 170 110 68 253 358
3 155 106 62 231 327
3.5 143 98 57 214 302
4 134 92 54 200 283
Sp Mòđun 4.5 126 86 51 189 267
5 120 82 48 170 252
6 109 75 44 163 231
7 101 69 41 151 213
8 95 65 38 141 200
9 90 61 36 133 188
10 85 58 34 127 179
12 78 53 31 116 163
15 70 47 28 103 146

 

4.4 Gá và xoay phôi

Phôi lắp trên trục gá, trục gá có chuôi côn cắm vào lỗ của đầu chia (hoặc cặp trên mâm cặp của đầu chia. Đầu chia được lắp trên một mâm xoay 360°. Quay đầu trục chính lên một góc a so với mặt nằm ngang (hình 2.4). Góc quay đã được xác định bằng phương pháp tính toán là: α = φ- λ

ở đây: α – góc quay của trục dao

φ- góc nửa đỉnh răng

λ- góc tạo bởi đáy của rãnh răng với đường sinh của hình côn
nguyên bản.

(Toàn bộ đầu chia được gá được gá lên mâm cặp quay để có thể quay được trên mặt phẳng khi mở rãnh răng). Chú ý rà đạt hai yêu cầu sau: Độ đồng tâm và độ dốc của phôi.

4.5 Phay phá răng

Thực hiện phay phá sử dụng dao phay mô đun đầu nhỏ (hình 11.2.5). Nâng bàn máy cho dao bắt đầu tiếp xúc với mặt phôi. Lùi dao theo chiều dọc một khoảng ngắn (nhưng phải ra khỏi bề mặt phôi). Nâng bàn máy một lượng phù hợp đối vởi chiều cao của môđun đầu nhỏ, (chiều sâu cắt). Để chống rung động ta nên khóa bàn máy lên xuôhg và bàn ngang lại. Cho dao quay, vặn bàn dao dọc bằng tay từ từ, tới khi dao bat dầu cắt thì cho chạy tự động. Rãnh răng thứ nhất hình thành với chiều sâu đúng, những chiều rộng mới bằng chiều rộng ở đầu nhỏ của rãnh răng. Chế độ cắt được xác định như khi phay bánh răng trụ răng thẳng.

4.6 Chia độ

Sau khi phay phá xong mỗi rãnh răng, phải chia độ để phay tiếp răng khác. Căn cứ số răng thực (z), để chọn đĩa chia và chọn số lỗ cần thiết. Nếu gặp những bánh răng có số lẻ mà phương pháp chia thông thường không chia hết, thì ta phải thực hiện chia theo các phương pháp chia vi sai hoặc bằng phương pháp chia phức tạp.

Đối với công việc phay bánh răng côn răng thẳng mà phải sử dụng phương pháp chia vi sai thì lúc này trục chính đã được xoay xiên không thể chia độ vi sai được (vì trục chính và trục phụ tay quay không song song với nhau thì không thể truyền động bằng bộ bánh răng thay thế được). Vậy để thực hiện điều này cần được khắc phục theo một trong ba biện pháp sau:

4.6.1 Nâng góc dốc bằng đồ gá

Trong sản xuất hàng loạt, ta có thể đặt toàn bộ dầu chia lên một bản đế có mặt dốc đúng dốc bằng góc (a). Nhờ vậy, mặc dù trục đầu chia không quay ngược lên được, ta cần chia độ vi sai vẫn sử dụng như trường hợp thường.

4.6.2 Chia vi sai bằng 2 đầu chia

Trong sản xuất đơn chiếc, có thể dùng hai đầu chia có N (N là đặc trưng
của đầu phân độ) như nhau. Đầu chia thứ nhất (I) gá phôi; quay trục của đầu
chia này dốc lên một góc a . Đầu chia thứ hai (II) đặt nối tiếp phía sau và trục
vẫn nằm ngang (hình 2.6) mâm cặp kẹp trục gá của bánh răng a khớp với
bánh răng b lắp ở trục phụ ử đầu chia thứ nhất (I) không nhất thiết phải có
bánh răng trung gian hoặc 4 bánh răng: a, b c, d. Nếu xê dịch được đầu chia
thứ hai cho hai bánh răng ăn khớp trực tiếp. Việc chia độ gồm hai bước: Chia
phần chẵn bằng đầu chia thứ nhất (I), chia phần lẻ ở đầu thứ hai (II).

4.6.3 Chia bằng cách chia phức tạp

Nếu không có dầu chia vi sai, có thể áp dụng phương pháp chia độ
phức tạp.

 

4.7 Phay mở rộng rãnh đầu lớn

 

Trong bước phay phá, ta mới phay răng thành rãnh rộng bằng đầu nhỏ trên suốt chiều dài. Như vậy, ở đầu lớn phải tiến hành mở rộng rãnh răng. Nhờ đầu chia (gá phôi) được đặt trên mâm gá quay, cho xoay một góc e theo hướng xoay sang hướng trái để phay mở nối sườn răng (hình 2.7). Góc e được xác định theo công thức:

Trong đó: S – Chiêu dày răng

S lớn, S nhỏ – Chiều dày răng mặt nút lớn, nhỏ

B – Chiểu rộng răng

L – Khoảng cách từ tâm đến mặt dầu lớn

Như vậy với đầu nhỏ của răng và dầu lớn có mối quan hệ:

4.8 Kiểm tra chiêu dày răng s

Sau khi phay đúng xong hai rãnh liên tiếp (tức là tạo thành một răng), cần
kiểm tra kích thước s, h’ và h” bằng thước cặp đo răng, hoặc bằng dưỡng tôn có
chiều rộng tương ứng hai dầu răng và góc dốc.

4.9 Sửa răng

Khi phay mở rộng rãnh thì chiều dày răng phía đầu nhỏ vẫn còn lớn hơn kích thước yêu cầu bởi vì khi phay chiều sâu thường lấy kích thước mặt đáy rãnh làm chuẩn. Vậy muốn răng ăn khớp tốt, sau khi phay xong phải sửa lại sườn răng bằng giũa cho đến khi khít vởi dưỡng, hay với một bánh răng chuẩn cho trước mới đạt.

4.10 Về góc

Quá trình phay ở đểu lớn của ráng thường bị nhọn góc. Để cho mất góc nhọn này đi để mặt đỉnh răng song song với đường tâm lỗ trục ta phải vê góc. (Việc này có thể làm trên máy tiện).

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.