Phân loại chuyển động trong máy công cụ

Chuyển động cắt: là những chuyển động của khâu chấp hành như trục chính, bàn máy, hoặc bàn dao tham gia vào quá trình tạo phoi trên máy công cụ.

Chuyển động của khâu chấp hành tạo vận tốc cắt gọi là chuyển động cắt chính. Chuyển động của khâu chấp hành duy trì quá trình cắt gọi là chuyển động chạy dao.

Cơ cấu chấp hành thực hiện chuyển động cắt chính là chuyển động quay có tên gọi là trục chính hoặc trục dụng cụ. Cơ cấu chấp hành thực hiện chuyển động cắt chính là chuyển động tịnh tiến có tên gọi là bàn trượt hoặc bàn máy.

Cơ cấu chấp hành thực hiện chuyển động chạy dao là chuyển động quay có tên gọi là bàn quay hoặc trục phôi. Cơ cấu chấp hành thực hiện chuyển động chạy dao là chuyển động tịnh tiến có tên gọi là bàn dao hoặc bàn máy(mang phôi).

Chuyển động tạo hình: Các chuyển động của các khâu chấp hành tham gia vào việc hình thành bề mặt gia công trên máy công cụ gọi là chuyển động tạo hình. Theo tính chất của đường tạo hình bề mặt có chuyển động tạo hình đường sinh, chuyển động tạo hình đường chuẩn. Chuyển động tạo hình chỉ có một thành phần chuyển động gọi là chuyển động tạo hình đơn giản. Các chuyển động tạo hình có từ hai chuyển động thành phần trở lên và quan hệ động học với nhau gọi là chuyển động tạo hình phức tạp. Các thành phần chuyển động tạo hình có thể trùng với chuyển cắt và chuyển động khác trên máy.

Khi tiện ren trên máy tiện (hình 1.5a), biên dạng ren được chép hình bởi biên dạng lưỡi dao tiện, đường ren được hình thành do hai chuyển động đồng thời gồm chuyển động quay (Q1) và chuyển động tịnh tiến (T2), có mối quan hệ động học với nhau. Nhóm động học tạo hình đường ren (Q ) kể trên có hai thành phần chuyển động trùng với chuyển động cắt chính và chuyển động chạy dao.

Tạo hình đường ren trên máy phay ren (hình 1.5b). Đường ren được hình thành theo phương pháp tiếp  xúc. Chuyển động quay (Q1) có chức năng chạy dao dịch chuyển góc và chuyển    động chạy dao tịnh tiến (T2) đều là chuyển động tạo hình đường ren. Chuyển động quay (Q3) là chuyển động cắt chính và hình thành đường phụ tiếp xúc với đường ren.

Chuyển động phân độ: là chuyển động cần thiết để xác định vị trí tương quan của dụng cụ với phôi theo dịch chuyển góc, khi cần gia công nhiều bề mặt giống nhau. Ví dụ như gia công răng của bánh răng cần phải có chuyển động phân độ.

Chuyển động phân độ có thể là chuyển động gián đoạn. Ví dụ khi gia công bánh răng bằng dao phay định hình, sau khi phay xong một rãnh răng cần phân độ để tiếp tục gia công rãnh răng khác.

 

Chuyển động phân độ cũng có thể là chuyển động liên tục. Ví dụ khi gia công bánh răng bằng dao phay lăn răng thì quá trình phân độ thực hiện liên tục cùng với quá trình tạo hình biên dạng răng, chuyển động phân độ trùng với chuyển động tạo hình biên dạng răng.

Chuyển động định vị: các chuyển động dịch dao để xác định vị trí tương quan của nó với chi tiết gia công để đạt kích thước gia công gọi là chuyển động định vị.

Chuyển động định vị có xảy ra quá trình cắt còn gọi là chuyển động ăn dao hay là chuyển động cắt vào. Chuyển động định vị chạy không còn gọi là chuyển động điều chỉnh.

 

Trong sơ đồ xọc răng bao hình (hình 1.6), chuyển động (T2) xác định khoảng cách trục của dao với phôi là chuyển động định vị. Nó còn được gọi là chuyển động cắt vào hay là chuyển động ăn dao hướng kính.

 

Chuyển động phụ khác: là những chuyển động không tham gia trực tiếp vào quá trình cắt nhưng đảm bảo những điều kiện cần thiết để quá trình gia công các chi tiết trên máy được thực hiện, như là chuyển động gá đặt và kẹp chặt phôi, tiến hoặc lùi bàn dao, bàn máy(chuyển động nhanh chạy không), đóng mở các cơ cấu dẫn động, hoặc các chuyển động vận chuyển và cấp phôi, tháo hoặc thay đổi vị trí các dụng cụ cắt, tự động kiểm tra, đổi chiều, thu dọn phoi…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.