Máy mài_Máy mài không tâm

a, Công dụng

Máy mài không tâm là loại máy mài dùng để gia công mặt trụ ngoài liên tục hoặc mặt trụ trong của các chi tiết không có lỗ định tâm, trong điều kiện sản xuất hàng loạt lớn và hàng khối.

Máy mài không tâm chủ yếu dùng để gia công các chi tiết hình trụ có đường kính không đổi hoặc các chi tiết hình trụ ngắn có gờ. Ngoài ra nó còn có thể dùng để mài các bề mặt định hình, bề mặt côn, mặt xoắn (mặt ren), v.v…

+ So với máy mài tròn ngoài (máy mài có tâm), máy mài không tâm có những ưu điểm như sau:

  • Năng suất cao hơn vì giảm được nhiều thời gian phụ như kẹp chặt phôi; quá trình gia công có thể thực hiện liên tục từ chi tiết này sang chi tiết khác.
  • Lượng dư gia công có thể nhỏ, vì trong quá trình gia công, chi tiết tự định tâm. Lượng chạy dao có thể lớn do độ cứng vững của máy lớn và có gối đỡ nên chi tiết không sợ bị cong.

Có thể gia công những chi tiết có đường kính rất bé và điều khiển máy không cần công nhân bậc cao.

+ Nhược điểm của máy không tâm là:

  • Khó đạt độ đồng tâm giữa lỗ trong và lỗ ngoài.
  • Không thể gia công những chi tiết có rãnh theo chiều trục ở mặt ngoài.

b, Nguyên lý mài không tâm

Tuỳ thuộc vào bề mặt cần mài, có thể phân biệt hai nguyên lý mài không tâm: mài mặt ngoài và mài mặt trong.

b1) Nguyên lý mài không làm mặt ngoài

Nguyên lý thực hiện các chuyển trong khi mài không tâm mặt trụ ngoài được trình bày trên hình 2.45.

Trên hình 2.45a, bánh (1) là đá mài hình trụ, bánh (2) là đá dẫn có dạng hình yên ngựa (hypecboloit). Chi tiết gia công (3) đặt giữa hai bánh đá trên, tựa trên thanh đỡ (4) và trượt dọc theo máng dẫn (5).

Đá mài (1) có vận tốc cắt v1= 30 – 40 m/s để gia công chi tiết. Đá dẫn (2) quay cùng chiều với đá mài với vận tốc v2= 10:50 m/ph để tạo nên chuyển động chạy dao vòng v3 và chuyển động chạy dao dọc s của chi tiết gia công.

Đá dẫn không có tác dụng mài chi tiết. Nó có nhiệm vụ làm cho phôi quay tròn, nhờ lực ma sát giữa hai mặt đá. Lực ma sát này cần phải lớn hơn lực cắt (hệ số ma sát của đá dẫn trên thép khoảng 0,6).

Thanh đỡ có thể thay đổi và điều chỉnh được. Tuỳ theo vật liệu của chi tiết gia công, thanh đỡ làm bằng những vật liệu khác nhau. Nếu phôi là thép hoặc kim loại, thanh đỡ cần là thép chống mòn, thép cao tốc hoặc thép hợp kim cứng. Để giảm rung động, bề mặt tì của thanh đỡ cần vát nghiêng về phía đá dẫn một góc từ 30-40O. Để tránh kẹt, chi tiết gia công cần đặt cao hơn đường nối liền tâm hai đá một đoạn h = (0,15-0,25)d nhưng không quá 10-12 mm (d là đường kính chi tiết gia công).

Mài không tâm mặt ngoài thường dùng ba phương pháp: phương pháp mài dọc, mài ngang và mài với gối tì.

  • Phương pháp mài dọc

Phương pháp mài dọc là phương pháp mài không tâm mặt trụ ngoài với lượng chạy dao dọc s (hình 2.45a).

Phương pháp này dùng để gia công các chi tiết hình trụ có đường kính không đổi trên suốt chiều dài. và cả những phần hình trụ có đường kính lớn nhất trên chi tiết định hình hay có bậc.

Khi mài với phương pháp mài dọc, ngoài chuyển động vòng v3, chi tiết gia công còn có chuyển động chạy dao dọc s theo chiều trục. Để thực hiện chuyển động chạy dao dọc, trục của đá dẫn phải đặt nghiêng một góc α so với trục của chi tiết gia công. Nếu vận tốc của đá dẫn là v2, phôi sẽ chuyển động với hai thành phần :

  • Tốc độ chạy dao vòng: v3 = v2cosα

– Lượng chạy dao dọc : s = v2sina

Nếu v2= const thì lượng chạy dao dọc càng lớn khi góc a càng lớn

Khi mài thô: a= 1.5:6° : Khi mài tinh a = 0.5 :1.5°

Lượng chạy dao dọc tính theo công thức không bao giờ đạt được 100% vì phôi không chỉ lăn mà còn bị trượt. Tổn thất do hiện tượng trượt khoảng 2:5%. Để gia công liên tục những chi tiết ống hoặc chi tiết thanh, dùng một bộ phận cấp phôi liên tục.

Khi gia công bằng phương pháp mài dọc, nhờ có mũi sửa đá bằng kim cương nên đá dẫn được tạo thành hình hipecpoloit. Nhờ đó đá dẫn tiếp xúc với chi tiết không chỉ trên một điểm mà trên một đường thẳng.

– Phương pháp mài ngang

Phương pháp mài ngang là phương pháp mài không tâm mặt trụ ngoài với lượng chạy dao ngang bằng cách di động chính xác đá mài (1) hoặc đá dẫn (2) theo hướng kính, thẳng góc với trục của chi tiết gia công (3) bằng trục vít me (hình 6.8b).

Phương pháp này dùng để gia công những chi tiết hình trụ ngắn, có gờ (không dài quá chiều rộng của bánh đá mài), hoặc những chi tiết hình côn và định hình với biên dạng của đá mài và đá dẫn tương ứng.

Trong phương pháp mài ngang, phôi được đưa từ trên xuống dưới và tùy vào thanh đỡ (4) nên không cần chuyển động chạy dao dọc mà chỉ cần chuyển động chạy dao vòng. Góc quay của trục đá dẫn chỉ cần rất nhỏ (a = 0,5^1°) để có thể ép chặt bề mặt phôi vào bề mặt đá mài theo một đường thẳng. Bề mặt tròn đá dẫn ở đây cũng gần là mặt trụ.

-. Phương pháp mài với gối tì

Nguyên lý của phương pháp này được trình bày trên hình 2.45c. Đây là phương pháp trung gian giữa phương pháp mài dọc và mài ngang, dùng để gia công chi tiết có gờ hoặc có đầu. Các chuyển động cần thiết ở đây cũng giống như ở phương pháp mài dọc, nhưng chuyển động chạy dao dọc s bị gối tì (5) hạn chế. Sau khi chi tiết gia công (3) chạm gối tì (5), đá dẫn (2) sẽ rời đá mài (1) và chi tiết (3) sẽ rời khỏi vị trí gia công.

b2, Nguyên lý mài không tâm mặt trong

Sơ đồ mài không tâm mắt trong được trình bày trên hình 2.46. Chi tiết gia công (3) tì lên con lăn đỡ (4), con lăn kẹp (5) đến đá dẫn (2) và được gia công bằng đá mài (1).

Vận tốc của phôi gần bằng với vận tốc của đá dẫn vì ma sát giữa chúng lớn hơn rất nhiều so với ma sát giữa phôi và đá mài. Vận tốc của đá mài lớn hơn vận tốc của đá dẫn từ 75 – 80 lần.

Để đảm bảo độ đồng tâm giữa hai mặt trụ trong và ngoài, chi tiết cần phải gia công trước mặt ngoài một cách chính xác để làm mặt chuẩn. Loại máy mài không làm mặt trong được dùng phổ biến để gia công chi tiết có thành mỏng, chánh được biến dạng khi bị kẹp chặt.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.