CÁC CƠ CẤU KHÁC CỦA ĐỒ GÁ GIA CÔNG

Chương 6
CÁC CƠ CẤU KHÁC CỦA ĐỒ GÁ GIA CÔNG

Ngoài các cơ cấu định vị, kẹp chặt, định tâm, cơ cấu phóng đại lực kẹp, cơ cấu sinh lực…, tuỳ theo loại gia công, đồ gá gia công còn cần các cơ cấu khác như: cơ cấu dẫn hướng, cơ cấu gá dao, cơ cấu chép hình, cơ cấu phân độ, thân đồ gá…
Những cơ cấu này có loại rất đơn giản nhưng thiếu chúng sẽ ảnh hưởng đến độ chính xác gia công, độ nhám bề mặt, năng suất lao động, cường độ lao động…
Sau đây ta nghiên cứu từng loại cơ cấu nói trên.

6-1. Cơ cấu dẫn hướng và kiểm tra vị trí của dụng cụ cắt.

Cơ cấu dẫn hướng và kiểm tra vị ưí của dụng cụ cắt là một bộ phận quan trọng của đồ gá gia công cắt gọt. Cơ cấu dẫn hướng dụng cụ cắt (bạc dẫn hướng) có tác dụng xác định trực tiếp vị trí của dụng cụ cắt, đồng thời nâng cao độ cứng vững của nó trong quá trình gia công, đảm bảo hướng tiến dao chính xác, giảm sai số gia công.
Cơ cấu kiểm tra vị ưí của dụng cắt chỉ nhằm xác định đúng vị trí của dụng cụ cắt trước khi gia công (ví dụ cơ cấu so dao phay, dưỡng chỉnh dao bào và xọc).
Nói chung, nếu dụng cụ cắt đủ độ cứng vững thì vị trí của nó được diều chỉnh ngoài phạm vi gá đặt phôi thông qua cơ cấu so dao (như trên đồ gá tiện, phay, bào, xọc, chuốt mặt ngoài). Nếu dụng cụ cắt kém cứng vững như khoan , khoét, doa) cần có cơ cấu dẫn hướng dụng cụ cắt nhằm đảm bảo độ cứng vững cần thiết của nó ưong quá trình gia công.

6.1.1 Bạc dẫn.

Các loại bạc dẫn dùng khi gia công lồ (khoan, khoét, doa) trên các loại máy khoan, máy doa có tác dụng dẫn hướng trực tiếp dụng cụ cắt. Bạc dẫn hướng được lắp trực tiếp trên phiến dần (tấm dẫn hướng). Tấm dẫn hướng lắp ghép với thân đồ gá gia công cắt gọt.
Tuỳ theo yêu cầu gia công người ta có thể sử dụng các loại bạc dẫn sau :
a.  Bạc dẫn cố định.

Loại bạc này thường được dùng trong dạng sản xuất đơn chiếc, loạt nhỏ và chỉ qua một nguyên công vói một bước công nghệ hoặc ở nguyên công gồm nhiều bước công nghệ (khoan, khoét, doa) mà sau mỗi bước công nghệ phải thay phiến dẫn có lắp bạc cố định (phiển dẫn tháo rời).
Về kết cấu, bạc gồm hai loại là bạc trơn và bạc có vai (hình 6-la,b). Kết cấu đơn giản, độ chính xác vị trí tương đối cao, nhưng thay bạc không thuận tiện.
Bạc được lắp trực tiếp trên tấm dẫn hướng hoặc trên thân đồ gá theo chế độ lắp H7/n6 hoặc H7/r6. Độ nhám bề mặt trong và ngoài của bạc phải đạt Ra=1.25 hoặc Ra= 0,63 μm.
b. Bạc dẫn thay thế.

Loại bạc này được dùng ưong dạng sản xuất lớn, hàng khối khi phiến dần cổ định để thực hiện các nguyên công gia công lỗ gồm nhiều bước công nghệ, sau mỗi bước phải thay thế bạc dẫn hướng và dụng cụ cắt.
So với bạc cố định, cần thêm một bạc lót giũa tấm dẫn và bạc dẫn. Bạc thay thế lắp với phiến dẫn thông qua bạc lót. Bạc lót lắp với phiến dần theo chế độ lắp H7/n6 và lắp với bạc dần thay thế theo chế độ lắp trung gian H6/g5 hoặc H7/g6. Bạc thay thế được có định nhồ vít hàm (hình 6-1 c).
Khi bạc dần bị mòn, muốn thay thế ta vặn vít và lấy bạc ra.

c. Bạc dẫn thay nhanh:
Kết cấu của loại bạc này về cơ bản giống như bạc dẫn thay thế, chỉ khác ở chổ có thêm phần khuyết trên vai bạc. Phần khuyết này có tác dụng giảm thời gian thay bạc, nhô nó công nhân đứng máy không cần tháo vít hàm bạc khi thay bạc mà chỉ cần xoay bạc sao cho phần khuyết trên cả chiều dày vai bạc ứng với vít hãm là có thể rút bạc ra khỏi phiến dẫn để thay thế (hình 6-1d).
Bạc thay thế nhanh thường được dùng trong quá trình gia công cần thay dao liên tục. Ví dụ một lồ cần gia công qua 3 bước công nghệ khoan, khoét, doa. Do kích thước đường kính dao tăng dần, nên yêu cầu kích thước đường kính lồ bạc phải khác nhau .
Dùng bạc thay thế nhanh có thể giảm thời gian phụ để thay bạc dần.
Ba loại bạc trên đà được tiêu chuẩn, có thể chọn trong các sổ tay cơ khí.

d. Bạc dẫn đặc biệt.

Do hình dáng chi tiết và vị trí đặc biệt của lồ gia công không thể dùng các loại bạc tiêu chuẩn, người ta có thể thiết kế các loại bạc đặc biệt.
Ví dụ ở hình 6-2a, b, c, d dùng các loại bạc dẫn hướng đặc biệt khi gia công các lỗ trên bề mặt nghiêng, mặt cầu mà tâm lỗ không hướng tâm mặt cầu, hai bên lỗ có mặt cao hơn, các lỗ có đường tâm quá gần nhau,…

e. Bạc dẫn quay.

Dùng để gia công lỗ trên máy doa nhằm tránh hiện tượng kẹt phoi gây ra mòn nhanh lỗ dẫn hướng của bạc. Bạc dẫn được lắp với ổ trượt hoặc ổ lăn và các ổ đó lại lắp với phiến dần. Bạc dẫn có lắp then với cán dao để quay theo trục dao trong quá ưình gia công.
Các thông số chủ yếu khi thiết kế bạc dẫn.
Bạc dẫn dùng để dẫn hướng, xác định vị trí và đồng thời để tăng độ cứng vững của dụng cụ cắt, nhằm giảm độ lệch và rung động ưong quá ưình gia công. Vì vậy bạc dẫn ảnh hưởng rất lớn đến độ chính xác gia công của lồ, đặc biệt độ chính xác vị trí tương quan. Khi thiết kế cần chú ý chọn các thông số sau:
(1) Kích thước và dung sai đường kính trong của bạc.
Khi dùng bạc tiêu chuẩn, vẫn do ngữòi thiết kế quyết định, nhưng cần theo các bước sau :
– Kích thước đường kính trong của bạc nên lấy bằng kích thước giới  hạn lớn nhất của dụng cụ cắt.
– Do mũi khoan, mùi khoét và dao doa đà chế tạo theo tiêu chuẩn, nên chế độ lắp giữa bạc và dao nên chọn theo hệ trục.
– Dùng chế độ lắp trung gian giũa dao và bạc dẫn để giảm ma sát và dao khỏi bị kẹt. Nói chung khi khoan và khoét lỗ dùng F7, doa thô dùng G7, doa tinh dùng G6.
Ví dụ: Gia công lỗ Φ16H8 trên vật liệu bằng thép, quá trình gia công gồm 3 bước công nghệ khoan- khoét -doa. Kích thước và dung sai của bạc được chọn như bảng (6-1).

Chiều cao H  là chiều dài tiếp xúc giữa mũi khoan và bạc. Trị số của H ảnh hưởng rất lón đến tác dụng dẫn hướng đối với dụng cụ cắt và sự ma sát giũa bạc và mũi khoan. Khi H lón, tính dần hưóng tót, nhưng ma sát giữa bạc và mùi khoan tăng lên; H quá nhỏ, tính dẫn hướng giảm. Nói chung ngữòi ta lấy H=(l-1,25)d. Khi lồ gia công yêu cầu có độ chính xác cao, hoặc đường kính lỗ gia công nhỏ, tức là độ cứng vững của mũi khoan thấp ta lấy giá trị lớn, ngược lại lấy giá trị bé

(3) Khoảng thoát phoi h (hình 6-6a):
Khoảng cách giũa bạc và chi tiết, bảo đảm việc thoát phoi. Nếu h nhỏ, thoát phoi khó khăn, không những bề mặt gia công bị hỏng, có khi làm gãy mũi khoan; nếu h quá lổn, tính dẫn hướng giảm, độ lệch của mùi khoan lón.
Đồ thị hình 6-6b biểu diễn quan hệ giũa h và đường kính d khi gia công thép và gang
(4) Vật liệu chế tạo và nhiệt luyện :
Bạc lót được chế tạo từ thép 45, tôi đạt độ cứng HRC 44-: 60.
Bạc dẫn hướng được chế tạo từ thép Y10A, Y12A, 9XC, tôi đạt độ cứng HRC 62-Ỉ-64 ; thép 20, 20X trước khi tôi phải thấm than đạt độ sâu 0,8: l,2mm.

6-1-2. Phiến dẫn

Bạc dẫn hướng được lắp trên phiến dẫn của đồ gá tạo thành cơ cấu dần hướng mùi khoan, mũi khoét, mũi doa dể gia công các lỗ có độ chính xác yêu cầu.
Phiến dần gồm hai loại là phiến dần cổ định và phiển dẫn động.
– Phiến dẫn cố định: Phiến dẫn cổ định được lắp chính xác với thân đồ gá. Nó có thể tháo lắp được hoặc không tháo lắp được. Phiến dẫn lắp cố định có thể đạt độ chính xác vị trí tâm lỗ cao, nhưng thao tác khi tháo lắp chi tiết gia công phức tạp, thời gian phụ lón và phải dùng bạc dẫn thay nhanh khi các lồ yêu cầu độ chính xác cao phải qua nhiều bước công nghệ. Chính việc này, nó ảnh hưởng đến vị ưí tâm lồ.
Hình 6-3 trình bày các loại phiến dẫn hướng: a)-có thể đúc liền; b) hàn; c) lắp ghép bằng vít với thân đồ gá.

– Phiến dẫn kiểu bản lề: Loại phiến dẫn này được chế tạo tách riêng khỏi thân đồ gá và gắn với nó bằng khớp bản lề (hình 6-4). Một đầu phiến dẫn gia công lỗ chính xác để lắp với chốt bản lề, đầu thứ 2 được xẽ rãnh để bắt vít kẹp chặt, tại dây có gối tựa thay đổi để đổ phiến dần. Loại phiến dẫn này có ưu điểm là dễ tháo lắp vật gia công. Nhưng có nhược điểm độ chính xác định tâm thấp, giá thành chế tạo đồ gá cao.

– Phiến dẫn treo (hình 6-5), tấm dẫn 2 được vít bắt chặt cố định với hai tại trượt 1. Phần đầu hai trụ này lắp liền với đầu khoan, còn phần dưới trượt ưong thân đồ gá. Phiến dẫn sẽ được nâng lên hạ xuống theo đầu khoan, nó có thể kẹp chặt luôn chi tiết gia công nhờ lực lò xo lồng ngoài hai trụ, nên giảm rất nhiều thời gian phụ.
Phiến dần treo thường được dùng trên các đầu khoan nhiều trục lắp trên trục chính của máy khoan và chỉ dùng khi gia công các lỗ chỉ bằng một bước công nghệ.
Chất lượng của lỗ gia công chịu ảnh hưởng của bạc dẫn hướng. Độ chính xác vị ưí của lồ gia công phụ thuộc vào các yếu tố sau :
– Khe hở giũa dụng cụ cắt và bạc dẫn hướng.
– Khe hở giữa bạc thay thế và bạc lót.
– Chiều dài dẫn hướng hoặc chiều dài tiếp xúc giữa dụng cụ và chi tiết H.
– Khoảng thoát phoi h .

6-1-3. Cơ cấu dẫn hướng dao khi chuốt.

Khi chuốt các bề mặt trong cần phải dẫn hướng dao chuốt để tăng độ cứng vững.
– Chuốt bề mặt đối xứng (lỗ trụ, lỗ then hoa, lỗ lục lăng…) nên dùng máy chuốt đúng để tránh hiện tượng làm toét lỗ do ưọng lượng của dao chuốt gây ra.
– Chuốt bề mặt không đối xứng qua tâm lồ (rành then), nên dùng máy chuốt ngang, răng của dao chuốt phải nằm phía trên để không bị ảnh hưởng do trọng lượng của dao chuốt.
Khi chuốt bề mặt trong do tác dụng của các lưỡi cắt đều và tương đối đối xứng nên không cần cơ cấu kẹp chặt phôi.
Khi thiết kế cơ cấu dẫn hướng dao chuốt cần chú ý các điểm sau :
1. Đảm bảo đủ độ dài dẫn hướng cần thiết, tránh lay động dao khi cắt.
2. Chú ý độ chênh lệch chiều cao giữa các răng cắt do mài không đều hoặc mòn không đều, nên dùng miếng đệm để khu độ chênh lệch này (hình 6-7).

3. Đảm bảo phôi không bị xê dịch khi chuốt bằng cách bổ ưí mặt định vị gần phần dẫn hướng dao để lợi dụng tổi đa lực chuốt giữ chặt phôi.
4. Nếu mặt chuẩn của chi tiết gia công còn thô hoặc đà gia công nhưng không chính xác phải dùng cơ cấu định vị tự lựa (ví dụ dùng khớp cầu), hình 6-8.
5. Cơ cấu định vị và cơ cấu dẫn hướng phải tôi cứng và phải qua mài.
6. Khi chuốt rãnh trên lỗ côn phải dùng đai ốc dể tựa chi tiết và khi chuốt xong đẩy chi tiết ra khỏi ống dần theo hướng dao .
7. Đối vổi chi tiết ngắn có thể ghép nhiều chi tiết để chuốt.

6-2. Cơ cấu xác đinh vị trí dao (cơ cấu so dao).

Cơ cấu so dao là một bộ phận của đồ gá để xác định chính xác vị trí của dụng cụ cắt so vổi đồ gá, thường được dùng trong các đồ gá phay, bào, tiện, chuốt mặt ngoài.
Cơ cấu so dao rất cần thiết vì trong sản xuất với quy mô lớn do dao bị mòn phải mài lại, sau khi mài sắc phải điều chỉnh vị trí dao so với đồ gá. Trong dạng sản xuất có sản lượng ít cùng phải dùng cơ cấu so dao để gia công chi tiết có hình thù phúc tạp ổ các nguyên công phay, bào nhằm đơn giản hoá quá trình điều chỉnh dụng cụ cắt.
Đối với đồ gá phay thì kết cấu của cơ cấu so dao thường gồm miếng gá dao và căn đệm (căn chừ nhật hoặc viên trụ). Miếng gá dao được lắp với đồ gá bằng mặt phăng, hai chổt định vị và kẹp bằng vít. Bề mặt làm việc của miếng gá dao được mài đạt độ nhám Ra= 1,25: 0,63 sau khi lắp cổ định trên đồ gá. Căn đệm có tác dụng tránh làm mòn bề mặt làm việc của miếng gá dao khi điều chỉnh dụng cụ cắt.
Miếng gá dao và căn đệm được chế tạo bằng thép Y8A, thép 20 tôi đạt độ cứng 55: 60HRC
Một sổ kết cấu của miếng gá dao phay như hình 6-9.

6-3. Cơ cấu định vị đo gá trên máy cắt gọt kim loại

Trong thực tế gia công, đồ gá gia công phải được định vị chính xác ưên máy cắt kim loại. Đồ gá có thể được lắp trên bàn máy (đồ gá phay, đồ gá doa) hoặc lắp với trục chính của máy (đồ gá tiện). Đồ gá chuốt được lắp với đĩa gá phôi ưên máy chuốt. Đồ gá dùng trên máy tiện đứng được lắp ưên bàn máy. Sau đây là một sổ trường hợp cụ thể.

6-3-1. Cơ cấu định vị đồ gá trên máy phay, máy doa :

– Cơ cấu định vị đồ gá phay thường dùng là hai then định hướng hình chữ nhật (hình 6-1 Oa) và lắp vói rãnh chữ T của bàn máy (hình 6-10b).
– Cơ cấu định vị dồ gá doa trên máy doa hoặc máy phay cùng giống như cơ cấu định vị đồ gá phay.
Rãnh chữ T của bàn máy phay hoặc máy doa thường có bề rộng là 13 18 mm, cá biệt B=13mm. Phần dẫn hướng hình chừ nhật phải có bề rộng tương xứng với chiều rộng của rành chữ T của bàn máy. Hai then dần hưống bằng nhau được lắp ưên cùng một rãnh chữ T của bàn máy và có khoảng cách hợp lí. Then dẫn hướng thường có các loại :
– Then bắt chặt với đế đồ gá (hình 6-10a, b).

Tuỳ theo yêu cầu của nguyên công mà chế độ lắp ghép của then dẫn hương vói rành chữ T của bàn máy có thể là : B(H7/h6)
So sánh 3 loại trên đây ta thấy:
Loại then bắt chặt vói dế dồ gá bằng vít chìm dề làm hỏng mặt then khi lắp vơi rãnh chữ T; Then không chính xác sè không lọt vào rãnh chừ T, thòi gian lắp dài. Then ròi đầu vuông dề lắp nhất vì then có kết cấu tiêu chuẩn, kèm theo máy. Then rời đầu trụ khó lắp vì then dề bị xoay khi lựa theo rãnh chữ T của bàn máy.

6-3-2. Cơ cấu định vị đồ gá trên máy tiện.

Trên máy tiện vạn năng thông thường, đồ gá tiện có thể được định vị trên phần trụ hay phần côn của đầu ngoài trục chính hoặc lỗ côn trục chính. Lỗ trục chính trên máy tiện ngang thường là lỗ côn moóc hoặc lỗ côn hệ mét, dầu trục chính máy tiện ngang thường có phần ưụ định vị và phần renren. Nói chung lỗ côn của máy dùng để định vị các đồ gá tiện nhỏ, nhẹ; còn đầu trục chính của máy để định vị đồ gá lớn. Các phương án định vị đồ gá tiện trên các máy tiện ngang và đứng được trình bày trên hình 6-12.

6-4. Cơ cấu phân độ.

Trong thực tế gia công, ta thường gặp các trường hợp sau :
– Một chi tiết gia công có bề mặt định hình hoặc có nhiều bề mặt giống nhau nhưng có vị ưí xác định ưên một vòng tròn cần được gia công trong một lần gá đặt.
– Nhiều chi tiết gia công có két cấu giống nhau cần được gia công tuần tự trên một đồ gá.
Để có thể gia công được những vị ưí khác nhau ưong một lần gá đặt ta phải tiến hành phân độ chi tiết gia công. Tuỳ theo hình thức chuyển động khi phân độ ta có phân độ tịnh tiến hoặc phân độ quay. Quá trình phân độ có thể đều đặn hoặc không đều đặn, được thực hiện trực tiếp với chi tiết gia công hoặc gián tiếp thông qua cơ cấu phân độ của đồ gá. Có thể phân độ bằng tay hoặc tự động.
Cơ cấu định vị và kẹp chặt chi tiết gia công được lắp ghép trên cơ cấu phân độ thành một khối. Quá trình phân độ có thể liên tục hoặc gián đoạn. Cơ cấu phân độ quay liên tục được dùng dể gia công các bề mặt định hình trên máy vạn năng khi chuyển động cắt (tạo hình) không chỉ do máy thực hiện mà phải có thêm chuyên động phối hợp cần thiết của chi tiết gia công; ví dụ cắt răng nghiêng trên máy phay vạn năng hoặc như phay rành xoắn ưên máy phay đứng. Cơ cấu phân độ quay gián đoạn dùng để gia công nhiều bề mặt giống nhau có vị trí phân bổ trên một vòng tròn. Nói chung cơ cấu phân độ bao gồm các bộ phận sau :
– Bộ phận cố định thường được lắp cố định ưên bàn máy.
– Bộ phận quay được định vị trên phần cố định; bộ phận quay có lắp các bộ phận chính của đồ gá dùng để gá đặt chi tiết gia công (cơ cấu định vị, cơ cấu kẹp chặt).
– Bộ phận định vị phần quay.
– Bộ phận kẹp chặt phần quay.
Độ chính xác của quá trình phân độ chủ yếu phụ thuộc vào bộ phận định vị phần quay. Bộ phận này được lắp trên bộ phận cố định và trong từng vị trí cố định nó sẽ xác định vị trí tương quan của phần quay so với phần cố định.
Bộ phận định vị phần quay thường có các loại sau:
– Kết cấu bi và lò xo (hình 6-13), loại này đơn giản, dễ chế tạo, nhưng có khả năng chịu lực kém và độ chính xác phân độ thấp.
– Kết cấu chốt trụ và lò xo (hình 6-14), có độ chính xác phân độ thấp vì chịu ảnh hưởng của khe hổ giữa bạc và chót. Loại kết cấu này có khả năng chịu tải trọng lổn
– Kết cấu chốt côn và lò xo (hình 6-15), độ chính xác phân độ cao, định tâm tổt.

 

6-5. Cơ cấu chép hình.

Cơ cấu chép hình là cơ cấu để xác định vị trí tương đối giũa dao cắt với chi tiết gia công, đồng thời xác định cả hướng chuyển động của dụng cụ cắt. Khi gia công các bề mặt định hình, cơ cấu chép hình có một tác dụng rất lớn để giảm thời gian gia công, nâng cao năng suất lao động . Trên máy tiện và máy phay rất hay dùng đồ gá chép hình, các máy khác cùng hay dùng.
Cơ cấu chép hình kiểu cơ khí dùng phổ biến nhất vì dễ chế tạo, đơn giản. Ngoài ra còn có những cơ cấu chép hình bằng dầu ép, khí nén – dầu ép phối hợp, điện – cơ phối hợp.

6-5-1. Cơ cẩu chép hình bằng cơ khí.

Hình 6-16 là một số sơ đồ các loại chép hình cơ khí hay dùng, trong hình: 1-mẫu; 2-con lăn; 3-bàn trượt ngang; 4-bàn trượt dọc. Con lăn luôn luôn dựa vào mẫu làm bàn trượt ngang chuyển động ngang, chuyển động này phối hợp với chuyên động dọc của bàn 4 làm thành quỹ tích định hình như của mẫu.
Trong các sơ đồ- chép hình một chiều như hình 6-16a,c,d,e cần có ngoại lực kéo để con lăn luôn ép sát vào mặt mẫu, lực này phải lón hơn lực cắt, vì thế mặt làm việc của mầu chóng mòn.
Hình 6-1 b, là loại mầu chép hình hai chiều, con lăn nằm ưong rãnh chép hình nên không cần dùng ngoại lực F để áp sát con lăn vào mặt làm việc của mẫu.
Hình 6-16c và d có mẫu quay tròn phối hợp với chuyển động thẳng của bàn trượt để tạo ra bề mặt định hình.
Hình 6-16e, dùng chuyển động của bàn máy để con lăn 2 dựa vào khuôn 1, dao phay sẽ cắt phôi thành hình như mẫu .

Mẫu có thể làm dạng cam đĩa, cam thùng, thước chép hình…
Mẫu và con lăn phải chống mòn tốt, vì thế thường làm bằng thép Y8A, Y10A, hoặc thép 20, 20X thắm các bon, nhiệt luyện đạt độ cứng HRC= 58 4- 62.
Góc nâng của mẫu không nên lón hơn 45°-ỉ-50o.
Bán kính con lăn không được làm lớn hơn bán kính nhỏ nhất của chi tiết gia công. Khi chép hình theo mẫu quay tròn thì hình dáng bên ngoài của mẫu nên làm lớn hơn hình dáng bên ngoài của chi tiết gia công.

6-5-2. Cơ cấu chép hình khí nén – dầu ép.

Chép hình đơn thuần bằng dầu ép phải có nhiều ưang bị phụ dầu ép cho từng máy, như thế rất tốn kém. Để nâng cao độ chính xác chép hình và giảm chi phí, ta có thể dùng kiểu chép hình khí nén – dầu ép hỗn hợp.

Hình 6-17 là sơ đồ nguyên lí làm việc của loại chép hình đó .
Khí nén qua ống 1 vào buồng trái của xi lanh 2, đồng thời qua van tiết lưu 3 vào buồng phải của xi lanh 2, từ đó qua ổng 4 vào buồng phải của xi lanh 5. Khi mũi dò 7 dựa trên mẫu 6 gặp chỗ lồi lên sẽ làm lồ 4 thông với áp suất bên ngoài, áp lực bên phải của piston 8 và 9 giảm sút làm dao cắt lui về phía sau. Khi mũi do 7 gặp chỗ lõm vào thì miếng chắn của màng kim loại đàn hồi 10 sẽ bịt kín lồ 4, lúc đó áp lực bên phải của piston 8 và 9 tăng làm dao cắt tiến lên.
Để điều chỉnh tốc độ tiến dao và bảo đảm hành trình được êm , ta có xi lanh dầu 11, khi dao tiến hoặc lùi khói dẳu ổ buồng này sẽ đi qua van tiết lưu 13 sang buồng kia. Piston 14, nhờ lò xo luôn đẩy dầu vào xi lanh 11 để bổ sung.

6-6. Thân đồ gá.

Thân đồ gá là chi tiết cơ bản nối liền các cơ cấu khác thành một đồ gá hoàn chỉnh, vỏ đồ gá cần có các yêu cầu sau :
1) Đủ cứng vững, chịu tải ưọng, lực cắt… không bị biến dạng.
2) Kết cấu đơn giản, nhẹ, dễ chế tạo, có tính công nghệ cao, dễ thao tác, dễ quét dọn phoi, dễ tháo lắp chi tiết gia công.
3) Vững chãi, an toàn, nhất là đối với đồ gá quay nhanh.
Thân đồ gá có thể đúc, hàn, rèn hoặc dùng thép tiêu chuẩn bắt chặt bằng đinh ốc. Thường dùng vỏ đồ gá đúc bằng gang . Một số ví dụ vỏ đồ gá như h6-18

So sánh thân đúc và thân hàn có các ưu khuyết điểm sau :
Thân đúc cứng vững cao, có thể đúc được kết cấu phức tạp, nặng, thời gian chế tạo lâu, đắt. Thân hàn cúng vũng thấp, khó hàn thành kết cấu phức tạp, nhẹ, thời gian chế tạo nhanh, rẻ. Nếu vỏ đồ gá không cần cứng vững lớn lắm có thể dùng hợp kim nhôm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.