BÀO ĐỊNH HÌNH P2 :Phương pháp bào mặt, rãnh định hình.

3. Phương pháp bào mặt, rãnh định hình.

Trong chi tiết máy thường gặp các bề mặt có dạng thẳng, cong đơn giản hay phức tạp. Các mặt cong này thường tạo thành bằng một hay nhiều đường cong có bán kính khác nhau, hoặc các đường cong nối liền với mặt phẳng. Tùy theo hình dạng chi tiết và điều kiện cụ thể mà ta có thể gia công bề mặt đó theo nhiều phương pháp khác nhau:

  • Bào mặt, rãnh định hình bằng dao định hình
  • Bào mặt, rãnh định hình bằng phương pháp phối hợp các chuyển dộng chạy dao dọc kết hợp với chuyển động ngang hay lên xuống.

3.1 Bào định hình bằng dao định hình

3.1.1 Nguyên tắc chung

Nguyên tắc này là dùng dao có hình dạng lưỡi cắt giống như biên dạng (prôphin) của bề mặt cần gia công theo chiều lật ngược, cắt trực tiếp vào phôi. Phương pháp này chỉ áp dụng khi bề mặt gia công hẹp (không quá 10 ~ 20mm), hình dạng với  góc lượn nhỏ chiêu sâu cắt không quá lớn.

3.1.2 Dao bào định hình

Dao bào định hình được dùng để gia công các dạng bề mặt có đường sinh cong và đường chuẩn thẳng, nó cũng dùng để gia công các rãnh thoát phoi ở dụng cụ cắt (ta rô. rãnh thoát phoi ở dao phay trục vít, mũi doa v.v…).

Dao dùng trong bào định hình có các góc và hình dạng tương ứng với bề mặt gia công theo dạng tiến dần đến đúng, nghĩa là để bào các bề mặt đó ta chuẩn bị nhiều loại dao có lưỡi cắt tương ứng đó tạo các bước cắt thô, cắt tinh. Trên (hình 3.2) thể hiện hình dạng bề mặt của dao tương ứng với hình dạng của chi tiết cần bào.

3.1.3 Các bước tiến hành

– Chuẩn bị máy, kiểm tra phôi.

Chọn máy bào, thử máy kiểm tra độ an toàn về điện, cơ, hệ thống bôi trơn, điều chỉnh các hệ thống trượt của bàn máy. Kiểm tra phôi (vạch dấu nếu cần), xác định được vị trí cất, số lần cắt (phôi có chiều rộng cắt lớn), phương án kiểm tra. Khi bào mặt định hình dùng để lắp ghép hoặc truyền động nên chú ý tới các mặt phẳng các đường thẳng liên quan và độ nhám của chi tiết. (Ngoài ra phải chuẩn bị chi tiết lắp ghép nếu có).

Ví dụ (hình 3.3) là hình dạng của 3 rãnh định hình lõm có các kích thước cụ thể, nên khi tiến hành bào ta phải xác định các kích thước liên quan như Chiều rộng, chiều dài, chiều cao và các vị trí tương quan như độ song song vuông góc, độ nhám v.v…

– Vạch dấu bằng dưỡng kết hợp với dụng cụ đo

Vạch dấu theo dưỡng là một công việc rất đơn giản nếu biên dạng của rãnh hay mặt thích hợp với các thông số dưỡng. Ta đặt tâm mặt định hình của dưỡng trùng khít lên tâm của rãnh sau khi đã xác định bằng thước trên bề mặt của phôi, dùng một dụng cụ vạch đủ nét để vạch sau đó chấm dấu chính xác. Trong trường hợp số rãnh nhiều hơn số rãnh của dưỡng ta vạch từ từ và chồng khít liên tiếp cho đến hết số rãnh cần gia công. Chú ý trong trường hợp vạch dấu theo phương pháp này rất có thể dẫn đến sự tích luỹ thừa, hay thiếu, vì vậy ta nên lấy dấu sơ bộ để định dạng, sau đó sẽ lấy chính xác.

  • Định vị và kẹp chặt phôi

Gia công bào được sử dụng các dụng cụ gá phù hợp với kích thước của vật gia công, mặt khác còn phụ thuộc vào tính chất, độ chính xác, độ nhám của chi tiết. Các dụng cụ thường dùng để kẹp chặt và định vị chi tiết gồm: Các loại vấu kẹp, phiến gá, mỏ kẹp… Trong quá trình thực hành ta thường sử dụng các loại êtô vạn năng bơi các loại êtô này thường được sử dụng dễ dàng và thường có mặt ở các phân xưởng thực hành của học sinh.

  • Gá và rà phôi trên êtô

Trong các trường hợp phôi có kích thước vừa, độ phức tạp không cao, thường sử dụng phương pháp gá kẹp phôi trên êtô.

  • Gá phôi trôn các dụng cụ gá chuyên dùng khác

Các trường hợp phôi có kích thước lớn và độ phức tạp cao, ta thường sử dụng phương pháp dùng các loại đồ gá chuyên dùng phù hợp với điều kiện thực tế. Sau khi chọn được dụng cụ gá thích hợp ta tiến hành rà phôi đúng các yêu cầu kỹ thuật, kẹp chặt phôi.

  • Gá dao và điều chỉnh dao (xem hình 3.4)

Sử dụng dao có hình dạng lưỡi cắt giống như biên dạng (prôphin) của bề mặt cần gia công theo chiều lật ngược, cắt trực tiếp vào phôi. Dao bào được gá lên giá bắt dao. Tâm của dao luôn luôn vuông góc với mặt phẳng ngang để tránh hiện tượng trong quá trình bào dao bị xô lệch.

– Điều chỉnh máy

Đôi với vật gia công trên máy bào ngang việc diêu chỉnh máy được chia ra hai bước: Một là xác định khoảng chạy đầu bào được xác định theo công thức:

L hành trình = chiều dài phôi + 3,5 chiêu rộng của cán dao.

Hai là điều chỉnh đầu bào ra vào cho phù hợp với khoảng chạy dao nghĩa là: Phần trong của dao sẽ là 2 lần chiều rộng dao, phần ngoài của dao sẽ bằng 1,5 chiều rộng của cán dao. (Nhưng trong trường hợp phôi bào dược gá trên mâm cặp của đầu chia độ ta phải hết sức chú ý đổ tránh trong quá trình bào dao va chạm với đầu chia.Tốc độ của đầu bào được xác định theo bảng tốc độ đầu bào tương ứng với chiều dài của vật gia công. Nhưng trong trường hợp bào mặt hoặc rãnh định hình, ta nên chủ động lựa chọn các tốc độ min cho phép (tức là chọn tốc độ chậm hơn so với bào mặt phẳng, hay bào bậc)

– Bào. (xem hình 3.5, 3.6)

Việc gá phôi và hiệu chỉnh phôi khi gia công các mặt định hình bằng dao bào định hình là một công việc đòi hỏi sự tập trung. Bởi kích thước phôi có hình dạng và đặc thù riêng. Tùy theo hình dạng kích thước và các yêu cầu kỹ thuật mà chọn phương pháp bào cho phù hợp.

+ Chọn tốc độ và lượng chạy dao

Tra bảng 1.2

+ Chọn chiều sâu cắt: Chiều sâu cắt được xác định phụ thuộc vào tính chất vật liệu phôi cũng như vật liệu làm dao.

+ Chọn phương pháp liến dao.

Theo hướng từ trên xuống theo hướng cữ đầu dao.

+ Tiến hành bào

Khi đã thực hiện xong các bước chuẩn bị, ta tiến hành số dao để xác vị trí tương đối giữa tâm dao và vị trí cắt. Khi xác định xong ta nhớ khóa chặt bàn máy ngang lại để tránh sự dịch chuyển không cần thiết. (Đây là công việc dễ xảy ra sai hỏng cho nên phải hết sức thận trọng).

 

Điều chỉnh chiều sâu cắt bằng cách cho dao bào tiếp xúc với bề mặt. trên của chi tiết sau đó tiến hành bào từ trên xuống vừa bào vừa kiểm tra rãnh định hình bằng (lưỡng hoặc thước cặp (có thể ướm chốt nếu có). Nếu kích thước rãnh đảm bảo thì cứ giữ nguyên dao cắt cho đến khi bào hết chiều sâu. Trong trường hợp có kích thước sâu, rộng thì tùy thuộc vào đó mà có thô cắt 2 hay nhiều lượt.

Nếu mặt định hình có nhiều hình dạng khác nhau mà không thể sử dụng một dao, thì ta có thể sử dụng nhiêu dao dể gia công kết hợp giữa các mặt lõm có các biên dạng khác nhau và mặt phẳng ngang.

 

3.2 Bào định hình bằng dao định hình kết hợp với dưỡng

Phương pháp bào các mặt định hình bằng dưỡng dao được sử dụng khi bào những chi tiết có các đường viền phức tạp. Trên hình 3.8 trình bày cách gá đặt chi tiết trên bàn máy bào ngang. Trước hốt ta bào sơ bộ theo dấu, khi gia công lần cuối (trữ lượng dư còn khoảng 0.5mm). Ta sử dụng dưỡng kẹp theo sau hàn máy, dưỡng thường làm bằng thép tôi có biên dạng (prôfin giống chi tiết gia công). Lắp và so dao với các biên dạng và kích thước theo mặt dưỡng để đơn giản cho việc gia công và đạt được kích thước cần thiết.

3.3 Bào định hình bằng phương pháp phối hợp hai chuyển động

3.3.1 Nguyên tắc chung

Bào định hình dựa trên nguyên tắc phôi hợp các chuyên động ngang, dọc và quay tròn của phôi, sao cho dao có chuyển động tương đối theo quỹ đạo như hình dạng bề mặt đặc biệt của chi tiết. (Chủ yếu bào những chi tiết có độ chính xác thấp, hay bào thô). So với các phương pháp khác, phương pháp này có ưu điểm là gia công được bề mặt rộng theo cả hai phương, bằng dao thông thường với chế độ cắt tương đối cao. Tùy theo phương thức truyền động, ta chọn các hướng chuyển động của bàn máy hay dao cho phù hợp. Mặt khác chất lượng mặt bào và các yêu cầu kỹ thuật khác phụ thuộc nhiều vào tay nghề cũng như kinh nghiệm của người thợ.

3.3.2 Các bước tiến hành

  • Chuẩn bị máy. kiêm tra phôi.

Chọn máy bào, thử máy kiêm tra độ an toàn về điện, cơ, hệ thông bôi trơn, điểu chỉnh các hộ thông trượt của bàn máy. Kiêm tra phôi, xác định được vị trí cắt, sô lần cắt, phương án kiểm tra.

  • Gá, rà và hiệu chỉnh phôi.
  • Gá và hiệu chình dao
  • Điều chỉnh hành trình đầu bào và chọn tốc độ, lượng chạy dao

Tra bảng 1.

  • Chọn chiều sâu cắt: Chiều sâu cắt được xác định bằng dầu dao lên xuống và bàn máy ngang cũng như phụ thuộc vào tính chất vật liệu để chọn cho phù hợp.
  • Chọn phương pháp tiến dao.

Theo chiều ngang kết hợp với chiều lên xuống của bàn máy.

  • Bào: Khi đã thực hiện xong các bước chuẩn bị, ta tiến hành so dao để xác vị trí tương đối giữa dao và vị trí cắt rồi tiến hành bào.

Xem thêm P3 tại: https://laptrinhcnc.com/bao-dinh-hinh-p2-kiem-tra-cac-dang-sai-hong-trinh-tu/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.