Bản vẽ chi tiết khi gia công

Bản vẽ chi tiết là tài liệu quan trọng nhất trong lập trình CNC, nêu rõ hình dạng, kích thước, dung sai, độ bóng bề mặt và nhiều yêu cầu khác đôi với chi tiết hoàn tất. Chi tiết phức tạp có thể có nhiều bản vẽ, với các hình chiếu, các tiết diện (mặt cắt), … Nhà lập trình trước hết cần đánh giá toàn bộ dữ liệu trên bản vẽ, lựa chọn các số liệu thích ứng để triển khai chương trình cụ thể. Cả nhà lập trình và người thiết kế đều phải hiểu các phương pháp của nhau và tìm cơ sở chung để toàn bộ quá trình thiết kế và chế tạo gắn kết với nhau và hiệu quả hơn.

Kích thước

Kích thước trên bản vẽ chi tiết được ghi theo hệ đơn vị Anh hoặc mét. Các kích thước riêng rẽ có thể được quy chiếu từ mốc chuẩn xác định, hoặc có thể là liên tiếp, được đo từ kích thước trước đó. Nói chung, cả hai kiểu kích thước đều được sử dụng trên cùng một bản vẽ. Khi viết chương trình có thể sẽ thuận tiện hơn nếu chuyển mọi kích thước liên tiếp – theo số gia — sang kích thước chuẩn – tuyệt đối. Hầu hết các chương trình CNC đều hưởng lợi từ các bản vẽ sử dụng kích thước chuẩn hoặc tuyệt đối. Tương tự, khi triển khai chương trình con để diễn dịch quỹ đạo chạy dao, phương pháp lập trình theo số gia có lẽ là lựa chọn đúng – và lựa chọn này tùy thuộc vào ứng dụng cụ thể. Phương pháp lập trình phổ biến nhất đối với các máy CNC sử dụng phương pháp khi kích thước tuyệt đối (Hình 5.1), chủ yếu do khả năng biên tập dễ dàng trong hệ thống CNC.

Với hệ thống ghi kích thước tuyệt đối, nhiều thay đổi trong chương trình có thể được thực hiện chỉ bằng một chỉnh sửa. Phương pháp số gia đòi hỏi ít nhất hai chỉnh sửa. Các khác biệt giữa hai hệ thống kích thước có thể được so sánh trên Hình 5.1 sử dụng phương pháp ghi kích thước tuyệt đối và Hình 5.2 sử dụng cách ghi kích thước theo số gia. Thuật ngữ sô” gia được dùng nhiều trong CNC, trong vẽ kỹ thuật thuật ngữ tương đương là kích thước tương đối. Cả hai hình này đều nêu rõ: a) bản vẽ trước khi chỉnh sửa và b) bản vẽ sau khi chỉnh sửa.

Dung sai

Để bảo đảm gia công chính xác, hầu hết các kích thước chi tiết đều có khoảng chuyên biệt về độ sai lệch được chấp nhận so với kích cỡ danh định, trong phạm vi hệ quy chiếu. Ví dụ, dung sai hệ Anh +.001/-.000 inch sẽ khác với dung sai hệ mét +0.1/-0.0mm. Các kích thước kiểu này thường là kích thước chính và phải được duy trì trong gia công CNC. Có thể khẳng định người vận hành CNC chịu trách nhiệm chính về bảo đảm kích thước chi tiết trong khoảng dung sai cho phép (với điều kiện chương trình là chuẩn xác), nhưng nhà lập trình CNC có thể giúp cho nhiệm vụ của người vận hành trở nên dễ dàng hơn. Bạn hãy xét ví dụ dưới đây về tiện CNC:

o          Kích thước lỗ trên bản vẽ 075 +0.00/-0.05, kích

thước thực trong chương trình là bao nhiêu?

ơ đây có vài lựa chọn, kích thước ở phía cao có thể lập trình là X75.0 và phía thấp của khoảng dung sai là X74.95. Kích thước giữa (trung bình) X74.975 là một lựa chọn. Các lựa chọn đều phải chính xác về toán họa. Nhà lập trình CNC có tính sáng tạo không chĩ tìm các điểm toán học mà còn tìm các điểm kỹ thuật. Lưỡi cắt của dao bị mòn dần khi gia cỏng nhiều chi tiết. Điều đó có nghĩa là người vận hành máy cần tinh chỉnh kích cỡ gia công bằng cáẹh sử dụng sự điều chỉnh mòn dao, khả dụng trên hầu hết các hệ thống CNC. Sự can thiệp bằng tay trong quá trình gia công là chấp nhận được, nhưng nếu lạm dụng điều đó sẽ làm giảm năng suất và tăng chi phí chung.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.