Home / Công nghệ CNC / Tự động hoá lập trình cho máy cnc

Tự động hoá lập trình cho máy cnc

  1.  Bộ tài liệu vận hành máy CNC Fanuc
  2. DVD sử dụng máy Plasma với Sheetcam
  3. DVD hướng dẫn sử dụng máy khắc gỗ
  4. Bộ 400Gb file mẫu 3D Jdpaint -Artcam
  5. Khóa học vận hành máy tiện CNC
  6. 2 DVD thực hành gia công Siemens NX11
  1.  Bộ Video phay tiện Mastercam X9
  2. Tài liệu gia công khuôn Powermill
  3. Khóa học vận hành máy Phay CNC
  4. Khóa học sử dụng máy điêu khắc gỗ
  5. Khóa học lập trình CNC với Mastercam
  6. 4DVD thiết kế sản phẩm 3D Solidworks

TỰ ĐỘNG HOÁ LẬP TRÌNH CHO MÁY CNC

Ở chương 6 chúng ta đã làm quen với khái niệm về lập tình bằng máy (lập trình tự động). Tuy nhiên để hiểu chi tiết về lập trình tự động và khả năng ứng dụng thực tế sản suất chúng ta phải nghiên cứu sâu một số vấn đề, đồng thời phân tích một sô ví dụ cụ thể.

14.1. Phân loại hệ thống tự động hoá lập trình.

Các hệ thống tự động hoá lập trình được phân loại theo các dấu hiệu sau:

– Dựa vào thiết bị và khả năng tự động hoá chuẩn bị công nghệ: tự động hoá công nghệ và không tự động hoá công nghệ.

– Dựa vào chức năng: chuyên dùng; vạn năng; tổ hợp. Hệ thống tự động hoá lập trình chuyên dùng được lập cho một số loại chi tiết và một số loại máy nhất định. Hệ thống tự động hoá lập trình vạn năng được lập cho nhiều loại chi tiết và nhiều loại máy khác nhau. Hệ thống tự động hoá lập trình tổ hợp được lập cho nhiều nhớm máy khác nhau trên cơ sở một ngôn ngữ đầu vào để thực hiện những nhiệm vụ đồng nhất.

– Dựa vào phạm vi ứng dụng: để gia công các mặt phẳng song song với các mặt phẳng toạ độ; để phay 2,5D; để gia công trên máy tia lửa điện; để gia công các chi tiết trên máy phay nhiều toạ độ; đê’ gia công trên máy tiện; để gia công lỗ trên các máy khoan; để gia công các chi tiết dạng hộp trên máy khoan – doa và các trung tâm gia công..

– Dựa vào mức độ tự động hoá: mức độ thấp; mức độ trung bình; mức độ cao. Hệ thống tự động hoá tập trình mức độ thấp thực hiện các phép tính hình học trên máy vi tính (xác định toạ độ các điểm của quỹ đạo dụng cụ cắt) và thực hiện các chỉ dẫn về thành phần chương trình. Hệ thống tự động hoá lập trình mức độ trung bình cho phép chọn thứ tự các bước công nghệ khi gia công từng bề mặt chi tiết. Hệ thống tự động hoá lập trình mức độ cao cho phép thiết kế nguyên công; điều chỉnh dao, thứ tự các bước công nghệ và chế độ cắt.

Lập trình tự động (lập trình bằng máy) có hiệu quả cao hơn hẳn so với lập trình bằng tay.

Ví dụ, khi lập trình bằng tay để gia công cánh tuabin trên máy phay phải cần thực hiện 8000 phép tính số học trên bàn phím điều khiển của máy. Để thực hiện 8000 phép tính đó công nhân phải mất 8,5 ngày. Nếu dùng máy tính và lập trình bằng ngôn ngữ APT (Automatically Progammed Tool) thì chuẩn bị thông tin cho máy tính mất 30 phút và thực hiện các phép tính trên máy tính mất 3 phút.

Một ví dụ khác: gia công đĩa có 73 lỗ nằm cách đều trên vòng tròn đường kính 250 mm. Mỗi lỗ cần gia công theo 3 bước: khoan tâm, khoan, doa. Khi lập trình bằng tay cần phải tính 146 toạ độ (mỗi lỗ cần tính hai toạ độ) với 438 câu lệnh (mỗi lỗ cần 3 bước công nghệ). Để hoàn thành công việc này phải mất 8 giờ. Nếu lập trình tự động cần 45 phút để chuẩn bị thông tin và 15 phút đè thực hiện các phép tính trên máy vi tính.

14.2. Máy tính dùng cho lập trình tự động.

Tốc độ và dung lượng bộ nhớ của máy tính có ảnh hưởng quyết định đển các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật của việc lập trình tự động (lập trình bằng máy).

Ngoài những máy tính vạn năng lớn người ta đã và đang sử dụng những máy tính nhỏ đặt ngay trong phân xưởng gia công để thực hiện việc lập trình. Hiện nay người ta còn trang bị cho mỗi máy một máy tính riêng. Như vậy hệ thống điều khiển có phức tạp hơn nhưng nó lại cho phép dự đoán tình trạng máy và lập trình gia công tại chỗ làm việc. Một ưu điểm khác của máy tính cỡ nhỏ là giá thành thấp và khi hỏng có thể thay thế một cách dễ dàng.

14.3. Cấu trúc của hệ thống tự động hoá lập trình.

Sự hình thành một chương trình điều khiển bằng hệ thống tự động hoá lập trình có thế được xem như là một quá trình xử lý thông tin. Thông thường chương trình điều khiển được hình thành qua 3 chương trình.

14.3.1. Chương trình tiền xử lý (preprocessor).

Chương trình tiền xử lý là những chương trình dịch những thông tin từ ngôn ngữ đầu vào sang ngôn ngữ của máy tính.

Chức năng của chương trình này bao gồm:

1. Tính toán các thông tin ban đầu của chi tiết gia công.

2. Đưa các thông tin ban đầu của chi tiết gia công trên màn hình điều khiển hoặc in ra giấy.

3. So sánh với những thông tin nạp vào với kết quả in ra để phát hiện sai sót.

4. Chuyên những thông tin đầu vào thành những số thực, còn các từ thành mã quy định.

14.3.2. Chương trình xử lý (processor).

Chương trình xử lý có các chức năng khác nhau sau:

1. Chuyển tất cả các dữ liệu hình học về dạng công thức toán học.

2. Xác định các điểm và các đường cắt nhau của các yếu tố hình học.

3. Xấp xỉ hoá các đường cong khác nhau với dung sai nào đó.

4. Dự đoán các sai số hình học .

5. Xây dựng các đường cách đều có tính đển phương dịch chuyển và bán kính của dao.

14.3.3. Chương trình hậu xử lý (post processor).

Chương trình hậu xử lý có các chức năng sau:

1. Tính toán tất cả dữ liệu của chương trình xử lý.

2. Chuyên đổi dữ liệu đó sang toạ độ máy.

3. Kiểm tra theo giới hạn của máy.

4. Tạo các lệnh dịch chuyển của dao có tính đển giá trị của các xung điều khiển.

5. Tạo các lệnh cho chu kỳ thay dao.

6. Mã hoá và cho các giá trị tốc độ và lượng chạy dao.

7. Cho lệnh mở dung dịch trơn nguội.

8. Xác định lượng chạy dao có tính đển giới hạn của máy.

9. Tạo lệnh hiệu chỉnh dao.

10. In ra chương trình gia công chi tiết.

11. Dự đoán các sai số.

12. Xác định thời gian gia công, tuổi bền của dao để định mức và tổ chức công việc trên máy.

14.4. Các thuật ngữ cơ bản dùng cho lập trình tự động (theo ISO).

Để định nghĩa hình học contour chi tiết người ta dùng các thuật ngữ tiếng anh ISO (bảng 14.1).

Bảng 14.1. Các thuật ngữ cơ ban dùng cho lập trình tự dộng (theo ISO)

14.5. Các ngôn ngữ lập trình tự động.

Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 100 ngôn ngữ lập trình tự động. Các ngôn ngữ này được triển khai để áp dụng vào thực tế sản xuất.

Tuy nhiên một số ngôn ngữ không được sử dụng rộng rãi vì chúng có những nhược điếm nhất định.

Trong khi đó có một số ngôn ngữ tuy được xây dựng từ lâu nhưng vẫn còn được sử dụng cho đển ngày nay. Các ngôn ngữ đó có ưu điểm như sau:

– Xác định bài toán một cách đơn giản (không cần tính toán

nhiều).

– Các ngôn ngữ dễ hiểu và dễ nhớ, phù hợp với các khái niệm của công nghệ chế tạo máy. – Với ít dữ liệu đầu vào vẫn có thể sản sinh được nhiều dữ liệu đầu

ra.

– Những tính toán cần thiết đều do máy tính thực hiện.

– Hạn chế các lỗi lập trình.

Dưới đây là một số ngôn ngữ lập trình NC được sử dụng rộng rãi ở các nước công nghiệp phát triển.

– APT (Automatically Programmed Tool). Ngôn ngữ lập trình này được xây dựng ó Mỹ. Nó cho phép giải quyết nhiều bài toán hình học khác nhau khi lập trình gia công trên máy phay nhiều toạ độ. Ngôn ngữ này là cơ sở cho các ngôn ngữ của ISO. Trên cơ sở của APT đã hình thành các ngôn ngữ sau đây:

– ADAPT để lập trình gia công trên máy phay 2,5D.

– AUTOSPOT để lập trình cho nguyên công khoan.

 – EXAPT-1; EXAPT-2; EXAPT-3 (Đức) có thể thực hiện chọn dao và xác định thông số chế độ cắt.

– NELNC (Anh) – IFAPT (Pháp) – FAPT (Nhật) – MODAPT(Ý)

– PROGRAMAT (Đức).

Ở Liên Xô và các nước đông Âu trước đây cũng đã xây dựng nhiều ngôn ngữ tự động khác nhau, ví dụ:

+ CППC, CAП-2, CПTC. Các ngôn ngữ này được xây dựng vào những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ XX.

Ngôn ngữ cnnc được sử dụng để lập trình gia công các bề mặt chi tiết 2,5D.

Ngôn ngữ CAП-2 được sử dụng để lập trình gia công các contour chi tiết trong mặt phẳng song song với các mặt phẳng toạ độ.

Ngôn ngữ CПTC được sử dụng để lập trình gia công chi tiết dạng trục trên các máy tiện.

– CПC-T được xây dựng trên cơ sở của CПTC để lập trình gia công trên các máy tiện.

– CПTC được xây dựng trcn cơ sở của APT, có khả năng phát hiện các lỗi và chỉ ra cách sửa các lỗi đó.

– CПC-K để lập trình gia công trên các máy khoan – doa và các trung tâm gia công.

– ECПC-TAY để lập trình gia công trên các máy phay 2,5D.

– TAY-C để lập trình gia công lỗ.

– TAY-CP0 để lập trình gia công trên các máy khoan, máy doa và gia công lỗ trên máy phay 2,5D.

– TAY-T để lập trình gia công trên máy tiện.

– CAП-EC để lập trình gia công trên các máy tiện, phay, khoan, doa bằng một hoặc nhiều loại dao .

– CПд  ЧПY đê lập trình gia công trên nhiều loại máy phay và máy khoan.

– TEXTPAH để lập trình gia công trên nhiều loại máy khác nhau.

– MͶK POAПT để lập trình gia công trên các máy tiện, máy khoan, máy phay và máy gia công điện ăn mòn.

– ECПП để lập trình gia công trên các nhớm máy khoan, máy tiện và máy phay.

 ttadv2 Hơn 200 học viên thành thạo mỗi tháng, bạn cũng tham khảo xem thế nào nhé:

Biểu học phí và lịch khai giảng các khóa học CAD CAM tháng này lichkhaigiang

Tìm từ:

  • ngôn ngữ lập trình của máy cnc